TẢN MẠN VỀ THẢO CẦM VIÊN
Tháng Sáu 17, 2009 lúc 6:04 sáng | Posted in 13. Biên khảo | Để lại phản hồi
Thảo cầm viên là một trong những công trình kiến trúc qui mô và có ý nghĩa xã hội lâu dài nhất trong quá trình 300 năm phát triển Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh.
Dự kiến Thảo cầm viên ngày xưa, bao gồm một khu vực lớn và tất cả các công viên đô thị, kể cả vườn Tao Đàn ( Công viên Văn hoá thành phố). Nhưng về sau, từ năm 1949, Thảo cầm viên được xác định qui hoạch khoảng 10 mẫu, giới hạn bởi rạch Bến Nghé, đường Chasseloup Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai), đường Docteur Angier (Nguyễn Bỉnh Khiêm) và kho đạn cũ (nay thuộc Ba Son).
Nói tới Thảo cầm viên, chắc ai cũng liên tưởng đến một nơi có nhiều thú rừng, thú quí hiếm; Có trồng nhiều loại cây to, nhỏ, hoa cỏ và có nhiều ghế đá để ngồi nghỉ chân. Nhưng chắc trong số đó cũng có người hiểu rằng nơi đây là cả một Viện bảo tàng sinh vật học được nuôi trồng trên trên năm trăm giống cây Việt Nam.
Kể từ các cây gỗ rừng như: trắc, gụ, sao, sến, lim, săng, đước…, các loại cây mọc ở đời núi cao nguyên như: tùng, gòn, mù u, anh đào, cà phê, cù đèn, cẩm thị, gáo, da… đến các loại cây cho hoa đẹp như: điệp, bông bụp, dành dành, huệ, bằng lăng, sứ ta, sứ sa mạc, trúc đào, bông súng, súng nia, nguyệt quế… cũng không thiếu những giống cây di thực thuần hoá như: agao, xương rồng, cần thăng, lan, dầu con rái, thiên tuế, vàng anh… ngay cả những cây để chiết xuất hương liệu hoặc làm thuốc như: mã tiền, từ bi, ngô đồng, đu đủ tía, giáng hương, lệ chi, lài, tạo giác, vông nem…
Và nếu ai đã từng nghe nói đến cây bao báp khổng lồ, muốn tìm hiểu vì sao nó toả trùm bóng mát, chịu được mưa bão, vững chắc giữa một vùng hoang vắng? Thì lạ thay! Ở thảo cầm viên, ta sẽ thấy chúng được kết cấu vỏ thân rất mềm xốp như một cây gòn, trông thật dễ thương.
So với Công viên văn hoá Đầm Sen, hoa kiểng ở Thảo cầm viên không khởi sắc rực rỡ như vườn hoa châu Âu, cũng không được tạo tác công phu như Nam tú thượng uyển, không tập trung phong phú như nhà xương rồng – nhà hoa ôn đới… nhưng nó có một vẻ đẹp uy nghi và giá trị chân thật ít nơi nào sánh kịp.
Chúng ta hãy thử đến khu nhà kiếng một lần, sẽ khó mà quên được cái nét thầm lặng, hoài cổ của các cây mẫu được đặt trên các kệ đá.
Ngoài vườn là cây cát anh khoẻ khoắn, lồ lộ những bông hoa to đỏ bền bỉ một thời được mệnh danh là hoa mẫu đơn. Bên cạnh là những cây vàng anh mang tên họ “Sacara Dives”, mà các du khách Ấn Độ đi qua đây đều kính cẩn lễ bái, vì họ tin rằng đây là một cây nhà “Phật”. Xa xa những cây cau kiểng không kém phần giá trị thỉnh thoảng đung đưa âu yếm như muốn nhận họ hàng với giống cây thiên tuế mập mẫm xanh tươi! Trên lối ra, hàng cau ve chai tự tin khoe chiếc thân tròn trùn trục độc đáo của mình y như hnững chai sâm banh to tướng. Vẫn không hề làm khuất lấp nét e ấp của đôi dừa ba cạnh (cau tam giác) đang đứng tựa hàng hiên. Đặc biệt nhất là cây chiết sen. Trên tàng cổ thụ lấp ló những đoá hoa sen trắng tím với chùm nhuỵ vàng hồng toả tròn, ngát hương.

Đã nhiều năm nay, các đôi nam thanh nữ tú dắt nhau vào Thảo cầm viên chuyện trò tình tự – Có ai cảm nhận được cái nghĩa vụ cao cả của từng bóng cây ngọn cỏ đứng phơi mình, chờ các bạn đến gần để tìm tòi, nghiên cứu? Các bậc cha mẹ dắt trẻ để vào nô đùa, ngắm nghía những con thú rừng – Có ai nghĩ đến việc bổ sung cho con cháu mình biết thêm vài điều về sinh vật học, về tài nguyên thiên nhiên của đất nước?
Và chắc ít ai biết, các nghệ nhân, các kỹ sư, có người mới làm việc có vài năm cũng như có người đã cống hiến cả đời mình cho nơi này – Như nghệ nhân Trương Đấu – Luôn khắc khoải một niềm hoài vọng là đưa Thảo cầm viên trở nên một vườn sưu tập “ sinh vật học quốc tế” hoặc gọi cách khác là “Bách Thảo Viện” thì sự qui mô sẽ còn vượt xa.
Cho dù Thảo cầm viên hiện nay được sử dụng chưa đúng tầm vóc của mình, và nếu xếp vào một địa điểm du lịch thì bề thế không bằng Suối Tiên, Đầm Sen. Nhưng mãi mãi, Thảo cầm viên vẫn xứng đáng là một viện bảo tàng sống, cho thấy sự phong phú của rừng vàng biển bạc nước ta; Xứng đáng là một nơi đại diện cho Việt Nam – Đất nước – Con người.
THÁI THANH NGUYÊN

(Ảnh minh hoạ: gà lôi trắng trống mái, trĩ sao, hoa chiết sen)
Báo Khoa học phổ thông 1997
Cầu Chữ Y – khúc quanh thành phố
Tháng Sáu 17, 2009 lúc 4:37 sáng | Posted in 13. Biên khảo | Để lại phản hồiTrong thời điểm này cầu Chữ Y đã được tháo dỡ. Khó có thể nói trước dự án tái thiết một cách chính xác bởi tình hình kinh tế biến động không ngừng. Có thể xây lại cây cầu trên nền cũ phù hợp với dự án đại lộ Đông Tây hay làm một cây cầu trên toạ độ khác? Dẫu sao, sau này hình ảnh cây cầu Chữ Y quen thuộc sẽ khác trước xa nên tôi post lại bài viết cách đây 7 năm để gọi là chút tư liệu cho lớp bạn trẻ sau này muốn chơi trò “khảo cổ”:
CẦU CHỮ Y – KHÚC QUANH THÀNH PHỐ
Cầu Chữ Y được cấu trúc bởi 3 nhánh. Nhánh trở ra Nguyễn Biểu dài 179m, nhánh đổ xuống chợ Rạch Ông dài 179m và nhánh đi về cù lao Chánh Hưng dài 144m. Tổng chiều dài hơn 502m, lòng cầu rộng 9m, lề đi bộ rộng 0,7m. Được khởi công xây dựng từ năm 1938 đến 1941, sửa chữa lần đầu vào năm 1948 và sửa chữa lớn năm 1992. Khác với mọi cây cầu trong thành phố, cầu Chữ Y được bắc trên một ngã ba kinh: kinh Tẻ, kinh Đôi và kinh Tàu Hủ.
Xưa, khi xứ này còn nằm trong địa hạt Chợ Quán, các nhánh kinh nói trên đều thuộc mạng lưới rạch Bến Nghé. Về sau nhiều đoạn kinh bị san lấp để xây dựng hệ thống đường bộ nên các nhánh kinh bị tách rời, đồng đổ ra Tân Bình Giang và được đặt lại mỗi đoạn một cái tên khác nhau.
Vào những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, cầu Chữ Y cùng các cây cầu khác như cầu Thị Nghè, cầu Kiệu, cầu Bông… đã trở thành những chiến luỹ vững chắc bao vây quân Pháp. Từ đây quân dân Du kích ngoại thành phối hợp với lực lượng Xung kích nội thành đã nhiều phen làm rung động bộ máy chính trị thực dân. Ngày 24.9.1945 lực lượng vũ trang cách mạng quần chúng đã chặn đánh và kiên cường chống trả sự đàn áp của quân Pháp.
Trong cuộc tiến công và nỗi dậy xuân Mậu Thân 1968, từ ngày 30 đến 31.1.1968
(mồng 1 và mồng 2 tết), với sự hỗ trợ của đồng bào, lực lượng quân giải phóng đã vượt cầu Chữ Y, tiến thẳng đến ngã tư Nancy (Trần Hưng Đạo – Nguyễn Văn Cừ) đánh tan một ổ đại bác cố thủ cùng nhiều xe bọc thép. Trong đợt tháng năm, quân và dân kháng chiến đã giữ vững quyền làm chủ khu vực cầu Chữ Y.
Từ 6 đến 12.5.1968 cuộc chiến đấu quyết liệt đã diễn ra suốt 7 ngày đêm. Bên Giải phóng quân chỉ có một tiểu đoàn đã chiến đấu anh dũng, phá huỷ nhiều phương tiện máy móc, tiêu diệt hơn 500 lính Quốc gia, phá hỏng 100 xe tăng… trước tình hình này, chính quyền Cọng hoà đã cho tăng cường quân sự bằng bom napan khiến nhiều nơi chìm trong lửa. Chiến dịch Mậu Thân thất bại, đến sau ngày 30.4.1945, cầu Chữ Y mới được trả lại cho nó cảnh quang hoà bình tươi đẹp.
Trong suốt 25 năm khắc phục biết bao khó khăn để đạt đến một nền kinh tế tương đối ổn định – Đất nước ta được đứng vào hàng ngũ các nước đang phát triển, đã gặt hái được nhiều thành tựu lớn. Song các vấn đề khó khăn lại tiếp tục diễn ra. Cầu Chữ Y đã phải gánh một phần khó khăn đó. Đường ngày càng trở nên chật chội ô nhiễm do mật độ xe tăng vọt. Để khai thác tiềm năng kinh tế những vùng lân cận như quận 7, Nhà Bè… nên việc tích cực giải toả mở mang đường phố không ngừng thực hiện. Nhưng điều đó vẫn không kịp đáp ứng số lượng khổng lồ xe cơ động đã đưa vào sử dụng.
Tình trạng kẹt cầu ngày càng gia tăng. Riêng cầu Chữ Y là một nút giao thông chủ chốt giữa trung tâm Sài Gòn và nhiều khu vực phát triển khác nên tình hình kẹt cầu hết sức trầm trọng. Từ sáng sớm đến chiều tối người xe qua lại trên cầu rất đông đúc. Đến giờ cao điểm, phải huy động lực lượng cảnh sát giao thông trên chục người điều hành liên tục mới giải toả được nạn kẹt xe. Đặc biệt cùng thời điểm đó, nhánh cầu rẽ về Hưng Phú, chân cầu rất yếu, nên tối thiểu phải có 4 chiến sĩ cảnh sát chặn chốt không cho xe tải lưu thông trên đoạn cầu này.
Chỉ tính trọng lượng tịnh của số lượng người xe trên cầu trong giờ cao điểm đã lên tới 500 tấn. Chưa kể sự cộng hưởng và nhiều yếu tố khác, chùng ấy thôi cũng đủ quá tải trọng qui định gấp nhiều lần. Người qua lại buộc phải đi trên con cầu quen thuộc mà không dứt nơm nớp lo sợ.
Mặt khác tình hình bất an ninh tại khu vực này đã vượt mức báo động. Khi vắng bóng cảnh sát, bất kể lúc người xe nườm nượp, cảnh giựt dọc thanh toán nhau diễn ra vô tư trên cầu. Dưới gầm cầu là khu vực cấm người lai vãng, được rào kín bằng lưới B40. Song chỉ cấm người vãng lai chứ không cấm người bám trụ. Khắp lòng cầu là cảnh mắc võng nằm, phơi quần áo, tắm giặt, quây quần đánh bạc, hút chích công khai… chen chúc nhau như cái chợ trời đủ loại tệ nạn.
Cầu Chữ Y bây giờ thực sự là một khúc quanh thành phố. Bởi lẽ nơi đó vừa là ngã rẽ, giao thông nội thành đồng thời cũng là nỗi băn khoăn cho người qua lại và là sự trăn trở của các nhà quản lý.
Để tạo điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao mạng lưới đường bộ và trước mắt giải toả ách tắc cầu Chữ Y, một số công trình cầu đường đang thi công và tiến hành xây dựng dự án. Đó là cây cầu Nguyễn Tri Phương đang được thi công giai đoạn I. Toàn tuyến cầu và đường dài 3000m, trong đó gồm đường Nguyễn Tri Phương nối dài và 3 cây cầu bắc qua kinh Tàu Hủ, Kinh Đôi. Cầu Nguyễn Tri Phương dài khoảng 300m, rộng 13m. Tổng vốn đầu tư là 213 tỷ đồng.
Tiếp đến là dự án cấu Chữ Y II do Sở GTCC và UBND thành phố phối hợp đầu tư xây dựng. Có hai phương án từ đường Nguyễn Văn Cừ bắc một nhánh qua cù lao Nguyễn Kiệm và đầu kia nối với đường Dương Bá Trạc, hoặc từ đường Nguyễn Văn Cừ bắc sang giữa cù lao Nguyễn Kiệu, từ đó tẻ một nhánh đến đường Bến Vân Đồn và Tôn Thất Thuyết. Dự kiến cây cầu dài 300m và rộng 12m, kinh phí đấu tư khoảng 40 triệu Franc Pháp.
Hiện nay hãnghãng EIFFEL Cộng hoà Pháp đã tìm nguồn tài trợ giúp 3,5 triệu không hoàn trả. Phần còn lại Sở GTCC và UBND thành phố sẽ tổ chức vay vốn theo nhiều hình thức.
THÁI THANH NGUYÊN
Tạp chí Viet Nam Feedback Thương mại & Giao thông vận tải Số 10 – năm 2000.

Blog at WordPress.com. | Theme: Pool by Borja Fernandez.
Bài viết và phản hồi feeds.